M&A ngành dầu khí Đông Nam Á hứa hẹn sôi động

Khi giá dầu biến động và thị trường chịu tác động từ lệnh cấm mua dầu Iran, các công ty năng lượng châu Á đang xích lại gần nhau hơn khi các tập đoàn toàn cầu rời bỏ khu vực.

Đông Nam Á đã chứng kiến tới 2,8 tỉ USD giá trị M&A (mua bán và sáp nhập) trong năm nay, tờ Asia Times trích lời Wood Mackenzie, công ty tư vấn có trụ sở đặt tại Anh.

Các thương vụ dẫn đầu là Murphy Oil, công ty dầu Mỹ đã bán hoạt động tại Malaysia cho PTTEP, một nhánh của tập đoàn năng lượng quốc gia Thái Lan, với giá 2,1 tỉ USD.

Wood Mackenzie dự báo giá trị tài sản dầu khí được trao tay trong khu vực này trong năm nay sẽ tăng lên 14 tỉ USD, nếu có nhiều thương vụ M&A hơn nữa như Murphy-PTTEP được hoàn tất.

Các thương vụ lớn như Murphy-PTTEP cho thấy quy mô giá trị hoạt động M&A trong ngành dầu khí Đông Nam Á đã tăng vọt, vì giá trị trung bình mỗi thương vụ M&A trong vòng năm năm qua chỉ ở mức 111,6 triệu USD, theo số liệu của S&P Global Market Intelligence.

Tổng giá trị các thương vụ M&A trong ngành năng lượng hàng năm ở châu Á đạt từ 5,4 tỉ USD tới 8,7 tỉ USD trong vòng bốn năm qua, theo Wood Mackenzie.

M&A ngành dầu khí Đông Nam Á - Ảnh: Shutterstock
M&A ngành dầu khí Đông Nam Á hứa hẹn sôi động - Ảnh: Shutterstock

Chuyên gia phân tích Andrew Harwood từ Wood Mackenzie cho biết ông kỳ vọng bên mua là "các công ty dầu mỏ quốc gia (NOCs) của Đông Nam Á và các tập đoàn khu vực có quy mô nhỏ hơn" với sự hỗ trợ từ "một vài công ty dầu quốc tế (IOCs) tầm trung vẫn còn tham vọng ở Đông Nam Á".

Nền kinh tế các nước Đông Nam Á đang tiếp tục tăng trưởng, do đó nhu cầu năng lượng sẽ gia tăng tương ứng. Điều đó đồng nghĩa các công ty năng lượng nhà nước như Pertamina của Indonesia và PTT của Thái Lan sẽ phải chi thêm 30 tỉ USD trong những năm tới để đáp ứng được nhu cầu năng lượng nội địa, theo Wood Mackenzie.

Nhu cầu năng lượng gia tăng của khu vực này, cũng như nhu cầu nguồn vốn và đầu tư công nghệ lớn để thăm dò mỏ dầu mới, có thể thu hút các công ty dầu quốc tế. Nhưng nhiều công ty quốc tế rõ ràng đang tìm cách thoái vốn khỏi khu vực hơn.

"Trong số các công ty lớn, Royal Dutch Shell tiếp tục kế hoạch thoái vốn khỏi khu vực và đang tìm cách bán 35% cổ phần đang nắm giữ tại Abadi, một dự án khí thiên nhiên hóa lỏng của Indonesia, trị giá tới 1 tỉ USD", Parul Chopra từ Rystad Energy - một công ty nghiên cứu năng lượng Na Uy, nói.

Các công ty năng lượng quốc gia trong khu vực, ngày càng tìm kiếm các dự án và tài sản mới trong khu vực lân cận hơn.

S&P Global Ratings trong một thông cáo báo chí hôm 23.4 cho biết sau một vài trường hợp mở rộng sang châu Phi và Tây Á gây thất vọng, "hầu hết các nước và các nhà sản xuất dầu tư nhân ở châu Á đang tập trung hơn vào thị trường quê nhà nhằm bổ sung dự trữ và gia tăng quy mô sản xuất".

Giá dầu khá biến động trong những tháng gần đây, tăng 45% từ mức thấp 43 USD/thùng (dầu WTI) và 50 USD/thùng (Brent) của tháng 12. Trước đó, giá dầu cũng rớt mạnh từ mức 76 USD và 86 USD trong tháng 10.2018, theo dữ liệu của Cục quản lý thông tin năng lượng Mỹ.

Giá dầu hồi phục trong giai đoạn gần đây có thể làm gia tăng lạm phát và khiến các đồng tiền châu Á gặp áp lực ở nhiều nền kinh tế nhập khẩu ròng dầu mỏ châu Á, với mức phụ thuộc nhập khẩu ở mức 50% tại Indonesia, 83% tại Ấn Độ và 90% tại Philippines.

Giá dầu tăng vào năm ngoái đồng nghĩa đồng tiền các nền kinh tế châu Á chịu thâm hụt tài khoản vãng lai, như Ấn Độ, Indonesia, Philippines, bị ảnh hưởng nặng nề", theo báo cáo gần đây của ngân hàng ANZ.

"Giá dầu cao giữa rủi ro về nguồn cung sẽ vẫn là một mối lo ngại", ANZ cho biết. Tuy nhiên, giá cả phục hồi có thể thúc đẩy việc thực hiện các thương vụ M&A và tái khởi động các dự án khu vực đã bị đình trệ trong thời kỳ suy thoái trên toàn cầu.

S&P Global Ratings chỉ ra ví dụ về các công ty dầu nhà nước của Trung Quốc, đã "tích cực củng cố các tài sản ở nước ngoài trong đợt bùng nổ giá dầu gần đây", bao gồm ở khu vực Đông Nam Á.

"Khi giá dầu giảm, các công ty dầu nhà nước của Trung Quốc không thực hiện bất cứ thương vụ mua lại nào", S&P cho biết. Chính phủ Trung Quốc cho biết đang tập trung mở rộng khai thác dầu khí trong nước để bổ sung lượng nhập khẩu khổng lồ, theo ước tính của S&P là chiếm khoảng 70% lượng dầu và 40% lượng khí vào năm ngoái.

Các đợt giá tăng lên đỉnh hoặc rơi xuống đáy là một phần phản ứng của thị trường đối với lệnh trừng phạt Iran, sự hỗn loạn chính trị ở Venezuela cũng như tình hình các nước sản xuất lớn như Saudi Arabia, Nga và Mỹ chưa rõ sẽ cắt giảm hoặc gia tăng nguồn cung.

Mỹ thắt chặt lệnh cấm mua dầu Iran từ hôm 2.5 là một động thái hạn chế nguồn cung từ Iran, đẩy giá dầu lên cao. Đó sẽ là vấn đề lớn nếu các nước nhập khẩu lớn như Trung Quốc và Ấn Độ tuân thủ yêu cầu của Mỹ để cắt giảm nhập khẩu dầu Iran, đặc biệt là Trung Quốc.

Nếu Bắc Kinh từ chối yêu cầu của Mỹ trong nhập khẩu dầu Iran, khiến Mỹ phải trả đũa, các cuộc đàm phán thương mại giữa hai nền kinh tế này sẽ còn tiếp tục khó khăn.

Nếu thị trường toàn cấu thiếu vắng nhiên liệu từ Iran, Mỹ có thể tăng cường xuất khẩu để đáp ứng mức thiếu hụt, thôi thúc các công ty dầu quốc tế, vốn ít sở hữu tài sản tại các thị trường châu Á, rút vốn khỏi các công ty trong khu vực này và tập trung vào các dự án dầu khí lớn hơn được phát hiện ở Mỹ.

Harwood tại Wood Mackenzie mô tả thương vụ 2,1 tỉ USD giữa Murphy và PTTEP là một ví dụ về "hợp lý hóa danh mục đầu tư của các công ty lớn", hoặc thoái vốn khỏi khu vực như Đông Nam Á đã thúc đẩy "sự tập trung vào nguồn cung dầu Mỹ, đem lại lợi nhuận cao hơn cho các công ty lớn".

Nhật Duy

Tin liên quan